Mua bán sáp nhập (M&A) và thoái vốn trong chiến lược và quản trị hiện đại

Mua bán sáp nhập và thoái vốn (Mergers, Acquisitions, and Divestitures) là những công cụ chiến lược được sử dụng phổ biến hiện nay ở nhiều tổ chức khi việc tăng trưởng hữu cơ (tự nhiên) khó có thể đạt được những mục tiêu kỳ vọng hoặc tầm nhìn sứ mệnh của công ty. Trong chiến lược và quản trị hiện đại, ví dụ nếu tổ chức có tầm nhìn trở thành công ty dẫn đầu toàn cầu về công nghệ, thì Ban điều hành có thể có những quyết định theo đuổi chiến lược tăng trưởng thông qua hình thức mua bán sáp nhập (M&A) hoặc tập trung vào những lĩnh vực công nghệ nhất định bằng cách thoái vốn tại các lĩnh vực không liên quan đến công nghệ.

Tổ chức thường chọn tăng trưởng thông qua việc mua bán sáp nhập (M&A) vì lý do nhanh hơn, rẻ hơn, hoặc ít rủi ro hơn so với tăng trưởng tự nhiên. Mua bán sáp nhập cũng cho phép tổ chức đưa ra được các giải pháp toàn diện và cạnh tranh hơn, cung cấp các giá trị sản phẩm đa dạng hơn với khách hàng, hoặc đạt được các mục tiêu về lợi nhuận cho cổ đông. Có rất nhiều ví dụ trong lĩnh vực công nghệ mua sắm, đã chứng kiến ​​một động thái to lớn đối với việc hợp nhất các nhà cung cấp phần mềm. Nhiều vụ sáp nhập lớn trong lịch sử M&A như thương vụ 85.4 tỉ đô giữa merger of AT&T và Time Warner. Tại Việt Nam cũng diễn ra những thương vụ mua bán sáp nhập lớn làm thay đổi các lực cạnh tranh trên thị trường khi có sự gia nhập các công ty quốc tế và Việt Nam hoặc ngược lại.

Trên thế giới, ví dụ tại Hoa Kỳ, khi sáp nhập những công ty lớn có thể phải nộp đơn và được xem xét về việc thay đổi tính cạnh tranh trong thị trường. Khi các vụ mua lại hoặc sáp nhập xảy ra giữa các tổ chức lớn hơn, Ủy ban Thương mại Liên bang (FTC) hoặc một tổ chức chính phủ quốc tế, sẽ xem xét việc sáp nhập hoặc mua lại được đề xuất trên quan điểm xem nó sẽ thay đổi cục diện cạnh tranh như thế nào. Nếu cho rằng việc mua lại hoặc sáp nhập được đề xuất sẽ làm giảm hoặc loại bỏ sự cạnh tranh, FTC có thể áp đặt các điều kiện để việc mua lại hoặc sáp nhập được tiến hành. 

Trên quan điểm về chiến lược, việc M&A cần có những phương pháp và nguyên tắc tiến hành nhằm tăng khả năng thành công cho thương vụ M&A. Nhiều công cụ như clean room (rà soát pháp lý), đánh giá TCO (Total cost of Ownership), đánh giá hợp đồng, xác định đòn bẩy (synergy levers), chương trình hành động (action plans), mô hình hoạt động (operating model),…Dưới đây là phần tóm tắt các bước tiến hành bao gồm:

  1. Công tác trước sáp nhập (premerger)
  2. Công tác đánh giá rủi ro (thẩm định - điều tra mục tiêu M&A để hiểu khả năng thương mại của nó, khả năng sản xuất cần thiết và tác động đến hỗ trợ khách hàng, quản lý nguyên vật liệu và hậu cần, đảm bảo chất lượng, hợp đồng cung ứng, nghiên cứu và phát triển và chuỗi cung ứng tổng thể)
  3. Công tác đảm bảo năng lực cung ứng (đảm bảo rằng các thỏa thuận cung cấp chính quan trọng đối với sự thành công của tổ chức sẽ vẫn còn nguyên vẹn sau khi M&A)
  4. Công tác định giá (Việc định giá tổ chức, ít nhất là một phần, dựa trên giá trị của chuỗi cung ứng và khả năng hoàn thành sứ mệnh của tổ chức đó.)
  5. Công tác tích hợp với các chuỗi cung ứng hiện tại (Sau khi mua lại, điều cốt yếu là các thực thể mới phải được tích hợp một cách hiệu quả trong tổ chức.)
  6. Công tác tối ưu chi phí (Mua lại và tích hợp các doanh nghiệp có thể tạo ra dư thừa. Ví dụ: một chức năng quản lý cung ứng có thể tồn tại tại doanh nghiệp được mua / tích hợp và các chức năng trùng lặp sẽ cần được hợp nhất và tích hợp, có khả năng mang lại hiệu quả.)
  7. Công tác sau sáp nhập (Sau khi hoàn tất việc mua bán và sáp nhập trên giấy tờ, công việc thực sự xảy ra liên quan đến việc kết hợp các tổ chức (trong trường hợp tích hợp dọc hoặc ngang) và tích hợp các hệ thống.

Thoái vốn (Divestitures) thoái vốn liên quan đến việc bán một doanh nghiệp hoặc ngành kinh doanh cụ thể mà tổ chức cho rằng không còn phù hợp về mặt chiến lược về lợi thế cạnh tranh và giá trị gia tăng. Các doanh nghiệp này thường được rao bán và bán cho người trả giá cao nhất. Thông thường, người mua là nhà cung cấp của tổ chức, khách hàng, đối thủ cạnh tranh, một nhóm nhân viên hoặc một hoặc nhiều nhà đầu tư độc lập.

Việc thu hồi tài sản cũng có thể xảy ra sau khi thực hiện mua lại hoặc như một điều kiện của việc sáp nhập. Việc thoái vốn có thể xảy ra tự nguyện theo lựa chọn của tổ chức mua lại hoặc có thể được yêu cầu như một điều kiện của việc sáp nhập bởi FTC tại Hoa Kỳ. Việc thoái vốn tự nguyện được thực hiện sau khi phân tích khả năng, vị trí và trạng thái tài sản của các tổ chức liên quan. Những tài sản có khả năng là ứng cử viên cho việc mua lại là những tài sản có: 1) khả năng chồng chéo hoặc dư thừa tồn tại, 2) sản phẩm hoặc dịch vụ được sản xuất không phù hợp với lợi ích chiến lược của tổ chức, 3) cơ sở vật chất đã lỗi thời và mới hơn, hiện đại hơn tồn tại các phương tiện kỹ thuật, hoặc 4) các khoản nợ hoặc chi phí kế thừa tồn tại mà tổ chức muốn giảm thiểu.

Nội dung trên đây là tổng quan sơ bộ về công cụ mua bán sáp nhập và thoái vốn diễn ra khá mạnh mẽ trong công tác chiến lược và tăng trưởng của các tổ chức hiện nay tại Việt Nam. Chi tiết các nội dung và kiến thức có thể tìm hiểu tại khóa học chiến lược và quản trị hiện đại của FMIT tại đây:

Icon email Icon phone Icon message Icon zalo